Tội ác lớn nhất của Cọng Sản trong lịch sử Việt Nam
Viet Cong Strategy of Terror
nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo
Những bài thơ được nhiều người mến chuộng
Nguyễn Thùy Linh DDS
Điện thọai: 770-986-0773
All of our work is 100% guaranteed, you'll never have to worry about the quality of our
404-642-9383
Tiến Sĩ Luật Khoa Tom Huỳnh/ 949-444-2544
*ĐMCS

Nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ qua đời, bắt chước người xưa, tôi là tên lính già qua đường, đứng lại khóc ba tiếng, sau đó lại cười ba tiếng. Nếu có ai lấy làm lạ, hỏi lý do làm sao mà khóc, tôi xin thưa rằng: “Ba tiếng khóc dành cho nửa đời trước của ông, một thời liệt oanh, được kể như anh hùng gặp vận, danh tiếng lẫy lừng, mà nay cuối cùng, theo quy luật của tạo hóa, cũng mồ chôn ba thước đất (nếu ông không chịu thiêu!) Nghĩ chuyện đời “sắc sắc không không”, buồn mà khóc thương ông!” Có người lại hỏi vì sao sau khóc lại cười, xin đáp: “Ba tiếng cười dành cho nửa đời sau của ông, nửa đời nặng nề lưu lạc, chia ly, chán chường, thất bại. Nửa đời tiếng bấc tiếng chì, ông chịu bao nhiêu búa rìu dư luận, mỉa mai, cay đắng, nguyền rủa. Ông nằm xuống, đi vào cõi tĩnh lặng, gác hết mọi sự, từ nay không còn nghe, không còn thấy những điều bất như ý, không còn vận dụng trí óc để đua chen, không còn vận dụng thể xác để rày đây mai đó. Sống ký tử quy, mừng ông đã về (không biết về đâu?) mà cười ba tiếng là vậy!”

Ông Cao Tần ngày bỏ đất nước ra đi, lưu lạc đến xứ người đã than rằng:“Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”Cao Tần tự hỏi vậy mà không làm gì, nên ông sống cuộc đời bình an. Nhiều người cũng tự hỏi như Cao Tần mà loay hoay chuyện này đến chuyện nọ, rút cuộc đời chẳng ra chi.
 

Có người bất như ý về nửa đời sau của ông để gọi những thăng tiến tột cùng và may mắn của ông ở nửa đời trước là những may mắn của “Xuân Tóc Đỏ”. Ví von như vậy là không công bằng và nặng lời, vì trong khi nhân vật “ma cà bông” của Vũ Trọng Phụng là trẻ mồ côi, sống ngoài lề, nhặt banh quần vợt, lớn lên dù có mang danh “cứu nước” thì cũng là danh hão, thì nhân vật Nguyễn Cao Kỳ, xuất thân không phải là danh gia thì cũng vọng tộc. Ông nội của ông làm tới chức thương tá (tức thương biện hay thương tá tỉnh vụ), thân phụ của ông là nghề thầy giáo, đương nhiên thường phải dạy con “giấy rách phải giữ lấy lề”. Di cư vào Nam, giữa tình thế đất nước nghiêng ngửa, ông cũng làm nhiệm vụ người trai tòng quân nhập ngũ. Xưa nay thời thế vẫn tạo nên anh hùng, nhất là buổi loạn lạc. Nói cho công bằng, ông Nguyễn Văn Thiệu xuất thân thế nào, gia thế ra sao, mà làm đến chức Tổng Thống, sao không nghe ai nói lời cay đắng, mà ông Nguyễn Cao Kỳ lên đến Thủ Tướng, rồi Phó Tổng Thống lại có kẻ dèm pha? Phải chăng một chuyện không nên, thì mười chuyện cũng bỏ. Người xưa đã có câu “cờ đến tay ai, người đó phất, chỉ sợ cờ đến tay rồi mà không biết phất, hay phất không nổi đó thôi.
 

Thời trước, đã có lúc tưởng như ông Nguyễn Cao Kỳ lên tuyệt đỉnh, như Tết Mậu Thân, ông Tổng Thống “an tâm, tin tưởng” hưu chiến, về quê vợ ăn Tết (!) để Cộng Sản bất thần tiến công vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã và nhiều quân lỵ, khiến ông Phó phải tả xung hữu đột, hay thời biến động miền Trung, nếu không có ông Kỳ chơi đòn quyết liệt xả láng thì Quân Khu I có thể đã tách rời miền Nam thành vùng đất trung lập.

Trong cuộc tranh chấp ai là người lãnh đạo miền Nam, nếu ông Kỳ cầm đầu một liên danh tranh cử Tổng Thống và đắc cử thì việc gì đã xẩy ra cho miền Nam? Đó là câu hỏi tôi đã từng đặt ra cho một ông bộ trưởng, dân biểu thân cận với ông Nguyễn Cao Kỳ. Câu trả lời là: “Chúng ta sẽ chịu nhục nhiều lần hơn!” Nghĩa là nếu một ông cựu Phó Tổng Thống quay về với Việt Cộng thì chúng ta đỡ nhục hơn là một ông Cựu Tổng Thống của chúng ta đi làm việc ấy. Nhân vật này hiểu tính nết của ông Nguyễn Cao Kỳ!
 

Sự lỗi lầm của ông Kỳ theo quan điểm của đồng bào tị nạn Cộng Sản ở hải ngoại là ông đã từng khẳng định, “muốn làm sứ giả cho sự hoà giải và kết hợp đại đoàn kết dân tộc” khi ông và bà vợ sau cùng về Việt Nam năm 2004, khen ngợi chế độ Cộng Sản và lên án những người chống Cộng ở hải ngoại là thiểu số và muốn quay về với quá khứ. Ông về Việt Nam, trong va li, lập trường chính trị nằm chung với dự án môi giới làm ăn mở sân golf và khách sạn tại một khu du lịch ăn chơi tại Hạ Long trị giá 4.5 tỷ đô la. Tiếc rằng ông đã qua đời quá sớm và đột ngột, có lẽ chưa được hưởng những lợi lộc mà ông hy vọng kiếm được qua vai trò trung gian, môi giới và hòa hợp, hòa giải, đổi bằng tất cả danh dự của đời ông.

Ngoài những lời nói đãi bôi, thù tiếp có tính cách tuyên truyền, mà ông Nguyễn Cao Kỳ đứng về thế “hạ phong” (dưới gió) như trường hợp khi Nguyễn Minh Triết đến Dana Point năm 2007, dù không được mời, ông cũng từ Việt Nam bay về để có dịp cụng ly và nói đôi lời tâng bốc, như ông thực sự là đại diện cho tất cả chúng tôi, kể cả những người đang đứng la hét phẫn nộ ngoài đường. Hầu hết hội đoàn cựu quân nhân, là những người đã từng là chiến hữu của ông, đã đồng loạt lên án và gọi ông là “tên phản bội”. Ở trong nước, ngoài những cựu quân nhân VNCH, thương binh đã đổ máu vì ông, coi rẻ ông, mà ngay cả những cựu thù, cũng không đánh giá cao về ông, một người của “thời cơ” và “phản bội”. Những đãi ngộ của chính phủ này dành cho ông, nếu có, cũng chẳng là bao, không xứng với danh phận và những gì ông đã làm lợi cho họ. Khi chết, ông cũng chỉ được gọi là “nhân vật của chính quyền Saigon” mà thôi!
 

Gần đây vợ cũ của ông đã về Saigon mở tiệm phở, rồi con gái ông chọn Đà Nẵng mở quán cà phê cao cấp theo sự khuyến khích của ông, làm cho tên tuổi ông càng xấu thêm ở hải ngoại. Giá như ông thuộc một gia đình dân giả tầm thường, hay là một người lính dưới quyền ông, dư luận có lẽ không mấy chú ý, nhưng 36 năm trước đây, gia đình này hưởng “ơn Vua lộc Nước” đã nhiều, sợ rằng những việc như thế nó không phải, với lòng tự trọng và nề nếp “giấy rách phải giữ lấy lề” theo đạo lý Việt Nam.

Tôi mừng khi nghe tin ông Nguyễn Cao Kỳ chết ở quê người rồi đem về Việt Nam, dù chôn hay thiêu, như vậy là đúng theo ý nguyện của ông, và tôi không chắc sẽ có Nguyễn Minh Triết đến viếng ông, vì ông chưa đủ thời gian và cơ hội để trở thành hàng “quốc táng”. Nếu ở Mỹ này, không khéo lại có người quý mến, hăm hở đem quốc kỳ đến phủ quan tài cho ông cũng nên!

Tàu có câu “Cái quan định luận” có nghĩa là khi người chết đã nằm trong quan tài, nắp hòm đậy lại thì mới định công luận tội. Tôi là kẻ hậu sinh, một tên lính quèn thời ông lên cao ngất ngưỡng, đâu dám định công luận tội, chỉ dám có đôi lời bộc bạch lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng về ông. Nhưng Tây lại có câu “Laissez les morts tranquille” nghĩa là xin để yên cho những người đã chết.

Khóc ông, nhưng cũng cười, mừng ông được yên nghỉ.

 

Dòng Chúa Cứu Thế SàiGòn
hát nhạc trữ tình bằng giọng "Quảng Nam"