Tội ác lớn nhất của Cọng Sản trong lịch sử Việt Nam
Viet Cong Strategy of Terror
nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo
Những bài thơ được nhiều người mến chuộng
Nguyễn Thùy Linh DDS
Điện thọai: 770-986-0773
All of our work is 100% guaranteed, you'll never have to worry about the quality of our
404-642-9383
Tiến Sĩ Luật Khoa Tom Huỳnh/ 949-444-2544
*ĐMCS

Thương tiếc Luật sư Trần Danh San (1937 – 2013) 

 S10-4458 330x370

Sinh ly tử biệt là như thế
Biết thế mà sao lệ vẫn trào *

Được tin buồn Luật Sư Trần Danh San, người đọc bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng,”  trước thềm nhà thờ Ðức Bà Sài Gòn vào ngày 23 Tháng Tư, 1977 năm xưa vừa qua đời lúc 1 giờ 30 sáng ngày 11 Tháng mười một, 2013, tại tư gia ở Westminster, California, thọ 77 tuổi,

Người Việt Atlanta xin thành kính phân ưu cùng tang quyến
và xin
nguyện cầu hương linh Luật Sư Trần Danh San sớm về cõi Niết Bàn.

ghi chú:  * thơ Hải Đà, trong bài Tiễn Anh  

 


 

Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng

 130350-Nhan-Quyen-2 jpg-400

 Văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng,”
do 2 Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp ký tên,
được tuyên đọc tại công trường Nhà Thờ Ðức Bà Sài Gòn, ngày 23 tháng 4, 1977.

Chúng tôi những người Việt Nam khốn cùng, với tàn lực còn lại với tinh thần tàn phế, quyết đấu tranh bằng con đường bất bạo động để kêu gọi lương tâm nhân loại, các lực lượng của thế giới văn minh, hãy lắng nghe những lời cầu cứu thảm thiết của những kẻ hấp hối.

- Tàn lực vì chúng tôi ăn đói và sẽ chết đói.

- Tinh thần tàn phế vì chúng tôi không được sống và suy tưởng như con người.

Chúng tôi buộc phải cúi đầu khom lưng tung hô vạn tuế chủ nghĩa - một chủ nghĩa đã lỗi thời và chống lại con người. Mặc dầu vậy, chúng tôi vẫn tiếp tục dùng ngôn ngữ con người để thức tỉnh bọn đao phủ mù quáng và tham tàn. Vì chỉ có con đường bất bạo động mới tránh khỏi các cuộc thảm sát huynh đệ tương tàn và khỏi làm nhơ bẩn tấm lòng trong trắng của những người Việt Nam khốn cùng.

Hỡi các nông dân trên thế giới hãy hướng về Việt Nam - nơi mà người nông dân phải cực nhọc suốt ngày với bụng đói. Hoa màu của họ bị tịch thâu nhân danh quy luật duy vật sử quan. Con trâu sau khi cày còn được nghỉ chứ người nông dân Việt Nam buộc phải theo dõi các buổi học tập nhồi sọ vô tận.

Hỡi các nông nhân trên thế giới, các bạn có thấu hiểu thân phận của người công nhân Việt Nam không? Người công nhân Việt Nam phải theo chế độ “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày nghỉ.” Ngày nghỉ họ buộc phải làm gấp đôi để dâng lên đảng, lên lãnh tụ mồ hôi, máu, và nước mắt của họ. Quyền thiêng liêng nhất của công nhân là quyền đình công, quyền này đã bị tước đoạt. Mọi ý kiến và hành động không theo khuôn mẫu sát của đảng đều đương nhiên bị coi như hành động phá hoại, gián điệp.

Hỡi các nhà truyền giáo, các khoa học gia, các triết gia, các văn nghệ sĩ, các trí thức, những ai đang tụng kinh hãy ngừng lại, những ai đang say mê nghiên cứu trong tháp ngà, hãy tung cửa ra, những ai đang sáng tác với ngòi bút, hãy bẻ gãy nó đi, tất cả hướng về Việt Nam - nơi mà chùa và nhà thờ đã bị biến thành hội trường để tuyên truyền chính trị - nơi mà các định luật khoa học bị móp méo để thỏa mãn chủ nghĩa - nơi mà các văn nghệ sĩ chỉ còn một việc duy nhất là tung hô Nhà nước theo lệnh của đảng.

Các vị và các vị hơn ai hết đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho Lòng tin, Sự thật, Công lý, Hòa bình và Tiến bộ, các vị không có thể làm ngơ quay lưng lại thảm họa Việt Nam trong đó có con người Việt Nam khốn cùng đang bị đày đọa trong xác thịt và câu thúc trong tinh thần. Thảm trạng này là do một thiểu số - bọn đảng viên và tay sai của chúng - muốn áp lên dân tộc khốn cùng này là những ảo mộng điên khùng nhất, quỉ quái nhất mà nhân loại chưa từng thấy. Các lực lượng văn minh trên thế giới hãy đứng dậy.

Không còn chờ đợi gì nữa!

Liên Hiệp Quốc phải can thiệp cấp thời để áp dụng và áp dụng triệt để Bản Quốc Tế Tuyên Ngôn Nhân Quyền đối với những người Việt Nam khốn cùng chiếu theo sự quy định của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Luật Sư Trần Danh San
(ký tên)
Luật Sư Triệu Bá Thiệp
(ký tên)
23 tháng 4, 1977

***

Vì Sao Chúng Tôi Tranh Ðấu

 130350-Nhan-Quyen-1 jpg-400

Văn bản “Vì Sao Chúng Tôi Tranh Ðấu,” do 2 Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp ký tên,
được tuyên đọc tại công trường Nhà Thờ Ðức Bà Sài Gòn, ngày 23 tháng 4, 1977.

- Chúng tôi đấu tranh để trả lại nụ cười cho trẻ thơ. Các cơn đói đã giết nụ cười hồn nhiên của chúng. Chúng phải nói dối để cha mẹ chúng thoát khỏi các cuộc tra vấn của công an.

- Chúng tôi đấu tranh để giành lại sự ấm cúng kín đáo của gia đình. Nay, thay thế vào đó là các buổi sinh hoạt tập thể căn cứ trên nguyên tác phê và tự phê để buộc chúng tôi phải lên án nhau. Thực chất của nó là Tòa Án Nhân Dân thu nhỏ, diễn ra hằng ngày dưới sự chủ tọa của công an khu phố.

- Chúng tôi đấu tranh để khỏi phải bị chứng kiến thảm trạng trong đó tiếng nói con người đã biến thành sự rên xiết vì sợ hãi và đói khổ. Quyền cuối cùng của con người là quyền than thân trách phận. Quyền này cũng bị tước đoạt vì làm như vậy có nghĩa là mất tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Ðảng. Chỉ riêng điều này cũng đủ để tống giam chúng tôi.

- Chúng tôi buộc phải đấu tranh vì đảng Cộng Sản Hà Nội buộc chúng tôi phải chấp nhận cái không thể chấp nhân được, bắt chúng tôi phải chịu đựng cái không thể chịu đựng được.

- Chúng tôi đấu tranh để giành lại hoa màu cho nông dân. Vì hoa màu của họ tịch thâu. Ðó là cách duy nhất để thực hiện kế hoạch nhà nước và tuân hành chỉ thị của đảng. Nếu người nông dân muốn xin lại một phần ít, họ phải chứng tỏ là các tín đồ trung thành của tôn giáo mới 'Máxít-Lêninít'. 

- Chúng tôi đấu tranh để giải phóng người công nhân. Họ phải thi hành chế độ ‘làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm trong ngày nghỉ’, trong khi đó lương của họ bị cắt giảm qua các phong trào được gọi là “Thi đua Xã Hội Chủ Nghĩa.”

- Chúng tôi đấu tranh cho các tu sĩ bị kết án “là con buôn thuốc phiện.” Vì chủ nghĩa cộng sản coi tôn giáo là thuốc phiện của dân chúng.

- Chúng tôi đấu tranh cho các người đang bị giam trong các trại tập trung cải tạo, mà nạn nhân đầu tiên là các trí thức. Tội duy nhất của họ là muốn được sống và suy tưởng theo như Bản Quốc Tế Tuyên Ngôn Nhân Quyền.

Là những con người và là con người Việt Nam, chúng tôi muốn tìm hiểu lịch sử dân tộc và thế giới, muốn thưởng thức văn học nghệ thuật nước nhà và các nền văn minh khác. Chúng tôi chỉ làm được điều này nếu có sự cho phép của cơ quan kiểm duyệt của đảng. Chúng tôi buộc phải tuân theo chính sách nhân hộ khẩu. Mọi vi phạm sẽ đưa đến việc cắt hộ khẩu. Ðiều đó có nghĩa là chết đó. Ðể đổi lấy thẻ hộ khẩu, chúng tôi buộc phải sống trong tình trạng quản thúc, mọi di chuyển đều bị kiểm soát. Ðó chính là bản chất của chính sách nhân hộ khẩu.

Chính vì vậy, chúng tôi phải đấu tranh. Chúng tôi đấu tranh để bênh con người, và các quyền bất khả xâm phạm của con người. Chúng tôi đấu tranh để giành lại sự tươi mát của tương lai.

 

Luật Sư Trần Danh San
(ký tên)
Luật Sư Triệu Bá Thiệp
(ký tên)
23 tháng 4, 1977

 

TRAN DANH SAN   TRIEU BA THIEP   LY KIEN TRUC OK resize

Luật Sư Trần Danh San, người, vào ngày 23 Tháng Tư, 1977, đứng trước thềm nhà thờ Ðức Bà Sài Gòn đọc bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng,” vừa qua đời lúc 1 giờ 30 sáng ngày 11 Tháng Mười Một, 2013, tại tư gia ở Westminster, California, thọ 77 tuổi.

Nhắc đến Luật Sư Trần Danh San (ảnh trên số 1) nhiều người nhớ đến ông như một luật sư kinh nghiệm, tài giỏi, đã cùng Luật Sư Triệu Bá Thiệp (số 2) viết và đọc bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên của Việt Nam vào năm 1977, chưa đầy 2 năm sau ngày Cộng Sản chiếm miền Nam.

 

74 4 S~1

nguon : http://hoacai2012.blogspot.com/2013/11/thuong-tiec-luat-su-tran-danh-san.html

 

Thương tiếc Luật sư Trần Danh San (1937 – 2013) 

 
2013-NOV-17-CROP-300-TRAN DANH SANLuật sư Trần Danh San vừa từ trần vào sáng sớm ngày 11 tháng 11 năm 2013 tại tư gia ở thành phố Westminster, California, vào độ tuổi 76. Mặc dầu biết rõ được căn bệnh nan y của anh từ nhiều năm gần đây, các bạn bè thân thiết cũng đã không nén được nỗi bùi ngùi thương tiếc đối với một con người đầy nghị lực và khẳng khái dũng cảm này.
Anh San là một thành viên năng nổ nhất trong nhóm Luật sư ở miền Nam đã dám công khai lên tiếng tranh đấu cho Nhân quyền vào năm 1977 - giữa lúc chính quyền cộng sản còn đang rất bạo ngược ngoan cố sau cuộc chiến thắng tại miền Nam vào năm 1975.  Thay mặt cho Nhóm, vào ngày 23 tháng 4 năm 1977 Luật sư San đã dùng loa phóng thanh tuyên đọc bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng” ngay trước bậc thềm Nhà thờ Đức Bà  – nơi có Công trường Kennedy ngay giữa Trung tâm Thành phố Saigon.
Sự kiện này đã gây cho Nhà nước cộng sản nổi giận điên cuồng đến độ họ đã ra tay truy bắt tòan bộ nhóm luật sư vào trại giam để thẩm vấn với những đòn trả thù đánh đập hành hạ đê tiện. Người lớn tuổi nhất trong Nhóm, thì phải kể đến  Luật sư Vũ Đăng Dung Nguyên Thủ lãnh Luật sư Đòan Tòa Thượng Thẩm Huế, rồi đến các Luật sư có tên tuổi khác như Triệu Bá Thiệp, Nguyễn Hữu Giao v.v…
Theo nhiều nhân chứng là các cựu tù nhân chính trị sống cùng trại giam như Đỗ Thái Nhiên, Vũ Ánh, Hồ Thành Đức cho biết, thì anh San đã bị đánh đập tra khảo dữ dội nhất – nhưng anh San vẫn giữ được thái độ hiên ngang kiên cường trước mặt đám người đã nặng tay hành hạ đối với bản thân mình. Và anh San đã bị giam giữ đến trên 10 năm trong nhiều trại tù khắc nghiệt nhất – cụ thể như trại giam số 4 Phan Đăng Lưu (tức Khám Lớn Gia Định cũ), trại A 20 ở Xuân Phước Tuy Hòa.
Trước đó, thì tại miền Bắc một vị Luật sư danh tiếng là Nguyễn Mạnh Tường đã công khai phê phán những sai lầm của Nhà nước cộng sản trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất ngay trong một phiên họp khóang đại của Mặt Trận Tổ Quốc tại Hanoi vào ngày 30 tháng 10 năm 1956. Luật sư Tường đã phải trả một giá quá đắt cho cái hành động can đảm này – như ông đã ghi lại chi tiết những khốn khổ mà ông và gia đình đã phải gánh chịu ròng rã bao nhiêu năm dưới chế độ cộng sản - trong cuốn Hồi ký viết bằng tiếng Pháp có nhan đề là :  “Mémoires d’un Excommunié “ (Hồi ký của một Kẻ Bị Khai Trừ) xuất bản ở Pháp vào đầu thập niên 1990.
Và trong hơn 10 năm gần đây, thì giới luật sư thuộc thế hệ rất trẻ ở tại Việt Nam cũng đang tiếp nối công cuộc tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền – mà các bậc đàn anh như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Danh San, Triệu Bá Thiệp v.v… đã khởi xướng từ nhiều thập niên trước. Điển hình như các Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Bắc Truyễn, Lê Trần Luật, Lê Quốc Quân v.v… Và cả đều bị bắt giam trong các trại tù.
Rõ ràng là đã và đang có sự chuyển giao cái ngọn Lửa Truyền Thống trong giới Sĩ Phu Trí Thức - như cha ông chúng ta đã từng thực hiện được từ bao nhiêu thế hệ trước đây trong lòng Dân tộc Việt Nam hào hùng của chúng ta.
* Quả thật, Luật sư Trần Danh San đích thực là một tiêu biểu, một đại diện thật xứng đáng cho giới luật gia miền Nam thời kỳ chế độ Việt Nam Cộng Hòa vậy.
*Xin vĩnh biệt Anh San, người bạn thân thiết và kiên cường của tất cả anh chị em chúng tôi.
*Và xin cầu chúc Anh San luôn an nhiên thanh thản nơi Cõi Vĩnh Hằng. 
 
Westminster California, ngày 18 tháng 11 năm 2013
Đoàn Thanh Liêm
 
 
Bài điếu văn cho Trần Danh San một A-20 vừa ra đi vĩnh viễn!

San thân,

Dù đã đoán trước được ngày giờ này đến với bạn sẽ không xa cái ngày ở tôi và Vũ Hồng Cương đến thăm và ở lại tán gẫu với bạn cả buổi sáng tại bệnh viện. Buổi sáng hôm đó, tôi đã nghe bạn nói với người bác sĩ điều trị: "Dù muốn dù không tôi cũng sẽ ra đi, đừng lo lắng thái quá cho tôi". Trần Danh San là như thế ! Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng không phải chỉ ở vào thời điểm bạn đã nằm trên giường bệnh vì ung thư phổi mà ngay từ thời gian luôn luôn chúng ta phải đối mặt trực diện với kẻ thù từ những năm đầu của biến cố 30-4-1975. Tôi nhớ cái ngày chúng tháo cùm mở cửa xà lim để chuyển chúng ta vào khu chuồng cọp "sang trọng" hơn ở trại B, đôi cổ chân của bạn sưng lên như chân voi, cái dấu cùm 16 lún xuống thành hai cái vòng. Chúng ta đã kiệt sức và phải bám vào nhau để lết ra gốc hàng dừa phía sau khu biệt giam chờ lên xe để chuyển trại. ( Khu biệt giam hay khu chuồng cọp phân trại B của A-20 Xuân Phước sang trọng hơn chỉ là mới hơn rộng hơn về bệ nằm nhưng chế độ ăn uống thì tệ hại hơn, nước uống được cấp phát dồi dào hơn nhưng nước muối mặn hơn nên dễ bị phù hơn. Tôi và Trần Danh San bị phù rất nặng đến mức cứ ngủ thiếp đi khi đang nói chuyện. Nếu ở ngoài các bạn bè tâm phục không liều chết tổ chức cho một người liều chết leo qua bức tường cao 4 thước có kẽm gai trước họng thượng liên của vọng gác tiếp tế thuốc vitamin B-1 cho chúng ta, chắc chúng ta cũng không thể sống nổi)

Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích bạn: "Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không". Trần Danh San đáp tỉnh bơ: "Tất nhiên, cán bộ". Bẻ gậy chống trời là từ ngữ đầy tính tự kiêu nhằm diễu cợt cái thế yếu của những người thua trận như chúng tôi và cái thế "trời" của những kẻ chiến thắng. Tư Nhừ hay Lê Văn "Nhừ" trả đũa một cách mỉa mai: "Hai anh trông còn khỏe lắm. Vào trong B tiếp tục tẩm bổ bằng muối và nghỉ mát để có sức bẻ gậy chống trời !". Chữ "trời" hắn kéo dài ra mang hơi hám của một lưỡi dao có thể cắt đứt động mạch chủ của chúng ta bất cứ lúc nào.

Bạn ạ, trưa Thứ Hai vừa rồi, Tăng Ngọc Hiếu từ Minnesota gọi điện thoại cho tôi báo tin bạn không còn ở với bọn tôi trên dương thế nữa. Tôi đã biết tin này trước anh Hiếu, nhưng cũng rất xúc động vì giọng nói như khóc của anh, một người bạn tù lúc nào cũng thuần hậu và quảng đại với tất cả các anh em. Bạn có biết Hiếu nói với tôi những lời như thế nào không? Anh ấy nói: "Ông ơi thằng San nó là một tay chơi trong tranh đấu. Hình ảnh của nó rất lớn mà chính nó không bao giờ chú ý đến". Chữ nghĩa tay chơi trong tranh đấu kể ra thì cũng khó diễn đạt. Không biết riêng bạn thì bạn nghĩ như thế nào và cũng chẳng đứa nào trong chúng tôi nhớ ra để hỏi bạn khi còn trên trần thế, nhưng cá nhân, tôi nghĩ một "tay chơi trong tranh đấu" phải là một người đầy bản lãnh, đông bạn bè tâm phục chung quanh, biết nhận lầm lỗi để sửa chữa, biết  thỏa hiệp để lùi một tiến hai, biết tổ chức và duy trì tổ chức có kỷ luật, thẳng tay loại bỏ những thành viên vô kỷ luật trong tổ chức và có đủ khả năng thương thuyết nói chuyện với những nhóm khác quan điểm để làm việc chung. Tăng Ngọc Hiếu, Vũ Hồng Cương cùng nhiều anh em khi nghe tin bạn vĩnh viễn ra đi đã gọi cho tôi và cho rằng bạn là người có đủ những đức tính này, là người đi tiên phong và can đảm nêu vấn đề nhân quyền ra trước bọn người đang điên cuồng vì chiến thắng, sẵn sàng bắn giết bất cứ ai đi ngược lại suy nghĩ của họ chứ không phải trước một chính quyền chuyên chính đã bớt chuyên chính hơn như chính quyền Việt Nam ngày nay sau khi Hà Nội đã nhận những cái tát đích đáng của dư luận thế giới bên ngoài.

Nhưng bọn tôi vẫn nghĩ rằng cái buổi sáng ở bệnh viện Garden Grove cũng là buổi không hẹn trước mà nên. Hôm ấy tôi thấy bạn tỉnh táo lắm, đi lại được, đã ngồi dậy được, bộ nhớ của bạn "on" trở lại. Bạn nói đủ thứ chuyện quá khứ, hiện tại và cả dự phóng về tương lai. Bạn nhớ tên từng khuôn mặt, tính tình của nhóm anh em tương đối hiểu nhau ở trại A-20, từ Tăng Ngọc Hiếu, Hiếu "đầu bạc", Ngọc "đen", Nhì "chính huấn", Hải "bầu", Hải "cà", Ngô Quốc Việt "pilot", Phụ "dù", Hai, Mỹ, Tường "dù", Sơn Hồng Đức, Trần Vinh, Cái Trọng Ty, Võ Long Sơn Hải, Mai Đức Phi cho tới Vũ Hồng Cương, Lương Văn Ngọ, Bùi Đạt Trung tức Trung "điên" (San còn phán: Lão ấy chả điên chút nào), Vũ Đức Nghiêm, Khuất Duy Trác, Võ sư chưởng môn Vovinam Lê Sáng, ông Châu Sáng Thế (Hồi giáo), các linh mục Nguyễn Văn Vàng, Phan Văn Trọng, Nguyễn Luân, Thượng tọa Thích Huệ Đăng, Quách Văn Trung, Trần Công Linh (BĐQ), Tài "sún", Nhan Hữu Hậu (tùy viên của nhiều đời thủ tướng VNCH), Trịnh Tùng, Tư "rè" Nguyễn Ngọc Tiên, Lê Thái Chân, Tống Phước Hiến, Lê Quang Minh, Khúc Thừa Văn (cựu DB/VNCH), cụ Nguyễn Duy Giá (cựu Tổng Đốc), ông Võ Văn Hải (chánh văn phòng của Tổng Thống Diệm), Trần Quí Phong, Khúc Thừa Văn (cựu DB/VNCH), Nguyễn Chí Thiệp, Phạm Trần Anh và còn rất nhiều người khác. Không hỏi thì thôi nhưng nếu hỏi đến một anh em nào, bạn nói ra vanh vách.

San thân,

Tôi đã đến thăm nhiều đồng đội của chúng ta lần cuối cùng trước khi họ trở thành người thiên cổ. Cuộc viếng thăm nào trong hoàn cảnh ấy cũng buồn và có những giọt lệ của tuổi già. Chẳng hạn như lần tôi và Cương thăm bạn ở khu săn sóc đặc biệt trong khi bạn chờ đợi kết quả thử nghiệm cuối cùng ở một dưỡng đường trên đường College. Lần ấy, chỉ có bạn là vui, chiếc máy cassette trong bạn hoạt động với công xuất tối đa, nhưng chúng tôi thì gần như cạn công xuất. Tuy nhiên, khi tình trạng của bạn được chính thức coi như hết thuốc chữa và được chuyển về bệnh viện Garden Grove, cuộc họp mặt tay ba giữa Cương, tôi và bạn trở thành cuộc gặp mặt nhau lần cuối cùng. Bạn nhắc tới Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền một tác phẩm tiên phong soạn chung với đồng nghiệp và cũng là bạn thân của mình là luật sư Triệu Bá Thiệp mang ra đọc trước nhà thờ Đức Bà ngày 23-4-1977 và bản tuyên ngôn này đã được bạn viết lại trong số báo Hợp Đoàn đầu tiên chúng ta phổ biến ngầm trong trại cải tạo A-20 Xuân Phước. Trong cuộc gặp ấy, tôi nhắc với bạn rằng không ai tránh được những yếu điểm của bản thân và bạn cũng vậy. Nhưng chung cuộc thì bạn cũng đã là người làm toàn vẹn nhất nghĩa vụ đối với vùng đất mà chúng ta lớn lên, học hành, làm việc và chiến đấu. Những việc làm của bạn, của tôi và những anh em khác không mang lại sự thành công như chúng ta mong muốn, nhưng ít ra cũng từ những việc làm đó, chúng ta đã khẳng định được nhân cách của mình, đứng thẳng lưng để đối đầu trực tiếp với cường quyền. Và nhất là về một mặt nào đó, bạn đã là người đi tiên phong một cách can đảm và không tính toán thiệt hơn cho cá nhân mình, gia đình mình trong việc đòi hỏi quyền thiêng liêng của con người phải được tôn trọng chỉ 2 năm sau khi những người thắng trận điều hành đất nước bằng một chính sách hẹp hòi, kỳ thị và rừng rú, chà đạp lên quyền sống của mọi người.

San thân,

Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu. Nói như thế có nghĩa là bạn đã sống từng trải, đã là một ngôi sao trong nghề nghiệp của chính bạn, đã khôn khéo trong cách ứng xử với thế nhân, đã có một vài thiếu sót trong nghĩa vụ đối với gia đình nhưng trong đời công bạn đã làm việc và chiến đấu không biết mệt mỏi góp phần mưu cầu kiến tạo một xã hội dân sự tốt đẹp, trọng pháp và quyền con người được tôn trọng.

Mong bạn về cõi bình yên và sống ở một thế giới khác thênh thang hơn, không còn chiến tranh và cũng chẳng làm gì còn thù hận. Bạn xứng đáng được hưởng một "cõi" như thế. Cái phúc phần đáng nói nhất bạn để lại cho trần thế này là tiếng nói tha thiết nhất của một người yêu nước và yêu con người qua bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1977 mà bạn và luật sư Triệu Bá Thiệp là đồng tác giả mà kết quả của việc phổ biến nó khiến bạn phải trả cái giá của tù đầy lâu dài. Bạn cứ yên tâm rằng vắng bóng bạn, chúng tôi vẫn còn mãi mãi nhớ đến San "lùn" của A-20 Xuân Phước ngày nào và tôi sẽ nói với những đứa con đã trưởng thành và làm nên của bạn rằng bố San là người hùng của chúng tôi và cũng là người hùng của chính các cháu đó. (VA)

Vũ Ánh

nguon :http://langa20xuanphuoc.blogspot.com/2013/11/bai-ieu-van-cho-tran-danh-san-mot-20.html


 animated candle

Trần Danh San, tiếng hò khoan đã tắt...


Ngày 11 tháng 11 năm 1960, ngày lực lượng Nhảy Dù thực hiện cuộc binh biến báo hiệu cơn sóng gió của chiến cuộc và chính cuộc Miền Nam. Cũng là ngày gã thiếu niên 17 tuổi hiểu rõ nỗi đau và sự chết có thật dâng lên ngập ngập trong thân, trong lòng...

Cảm giác, phản ứng nôn nao sinh tâm lý làm nghẹn đường thở, rì rầm âm động nơi trái tim với câu hỏi... Mẹ bây giờ ở đâu? Mẹ sống, chết ra làm sao? Em đang nơi nào? Làm sao để sống? Ngày 11 tháng 11 năm nay, 2013, Lễ Cựu Chiến Binh ở Mỹ, người lính của chiến tranh xa nặng lòng, mệt nhọc, buông xuôi.. Chứng kiến Người Bạn ra đi sau những ngày, giờ chạm dần vào cánh cửa vô hình hiển hiện của sự chết. Trần Danh San ra đi thanh thản sau khi đã sống đủ một đời kiệt liệt.


Tôi với anh không phải là bạn đồng trang lứa. Anh lớn tuổi thuộc lớp niên trưởng nếu ở trong quân ngũ, của sinh hoạt văn hóa, chính trị, xã hội Sài Gòn, Miền Nam trước 1975. Anh là luật sư Tòa Thượng Thẩm Huế, con rể cụ Vũ Ðăng Dung, thủ lãnh Luật Sư Ðoàn Sài Gòn, giai cấp xã hội với chuyên môn nghề nghiệp thuộc thành phần lãnh đạo ở miền Nam, cũng là của hệ thống cầm quyền thuộc các chế độ dân chủ pháp trị trên toàn thế giới. Tôi chỉ là sĩ quan cấp úy của một binh chủng thuần thành tác chiến. Nhưng chúng tôi đã nên thân thiết qua một liên hệ bằng hữu chặt chẽ. Bởi cả hai cùng chung trận tuyến quyết liệt không chấp nhận người, chủ nghĩa, chế độ cộng sản. Cho dẫu hơn ai hết, tôi và anh đồng hiểu rõ chỉ là hai cá nhân hạn chế bởi những điều kiện khách quan lẫn chủ quan, vật chất và tinh thần cần thiết cho cuộc chiến đấu không khoan nhượng và không cân sức này. Cuộc chiến đã bị thất bại cụ thể với ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng chúng tôi không hề thất vọng và tiếp tục phần đương cự trong những hoàn cảnh, điều kiện riêng.

Tôi không hề ngoa ngôn, xưng tụng vô cớ. Xin minh chứng sức mạnh tinh thần, bản lãnh kiên cường của một Con Người - Ðiển hình của Kẻ Sĩ Việt Nam.

Năm 1977, Sài Gòn, miền Nam đang trong gọng kìm gay gắt của chế độ cộng sản theo khuôn mẫu trại lính của Liên Xô thời Stalin. Ðúng ra là hình thái trại tập trung khổng lồ nối dài từ miền Bắc theo khuôn mẫu xã hội xã hội chủ nghĩa của Tổng bí thư Lê Duẩn. Trại tập trung bao gồm toàn bộ quân dân cán chính VNCH và gia đình, cùng tất cả thị dân miền Nam.. Khối đông người “được nói rõ ra là bị” xếp vào hạng thứ 14 của 15 giai cấp xã hội theo cách đánh giá từ Bộ Chính Trị đảng cộng sản Hà Nội. Hạng thứ 15 là thành phần tội phạm hình sự gia trọng bị chung thân khổ sai, hoặc chờ thi hành án tử hình của một loại tòa án nhân dân do những cán bộ cộng sản từ bưng biền miền Nam, từ miền Bắc vào ngồi ghế chánh án.

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc. Tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng.” Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản 'Tuyên Ngôn Nhân Quyền của “Những Người Việt Nam Khốn Cùng” đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản. Anh cố đọc lần thứ hai, nhưng mới được một nửa thì công an ập tới. Hai luật sư San và Thiệp không bị bắt riêng rẽ, hai anh có những người bạn chiến đấu cùng chịu chung cảnh ngộ gồm các Luật Sư, Giáo Sư Vũ Ðăng Dung, Nguyễn Hữu Giao, Nguyễn Quý Anh, Vũ Hùng Cương, Trần Nhật Tân, Phạm Biểu Tâm, Huỳnh Thành Vị, Nguyễn Hữu Doãn, Hà Quốc Trung và Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Ðiệp... Nhóm trí thức bị giam giữ nhiều năm tại các nhà giam khắc nghiệt nhất của miền Nam, Trại Phan Ðăng Lưu, Sài Gòn; Trại A20, Xuân Phước, Phú Khánh. Trong tù, Kiến Trúc Sư Nguyễn Văn Ðiệp, Giáo Sư Hà Quốc Trung đồng tự sát; Luật Sư Niên Trưởng Vũ Ðăng Dung, nhạc phụ của Trần Danh San lúc ấy đã qua tuổi 60.

Cần phải nhắc lại những chi tiết... Chưa tới ba mươi tuổi, Trần Danh San đã là một trong những luật sư trẻ tham gia chương trình thử nghiệm đầu tiên thành lập chính quyền dân sự tại tỉnh Quảng Nam do ông Nguyễn Hữu Chí vừa ở Mỹ về, được cử nhiệm làm tỉnh trưởng năm 1966. Nhưng cuối cùng chương trình này cũng không thành công vì sức ép của chính quyền quân sự vào thời điểm ấy. Anh trở lại nghề luật với kiến thức, kinh nghiệm sâu xa về nền chính trị rối ren tại VNCH, sự hiểu biết tường tận về những nguyên nhân gây nên tranh chấp trong hàng ngũ chính quyền VNCH và quân đội. Cuộc di tản, rút khỏi miền Trung, sụp vỡ Sài Gòn tháng 3, tháng 4 năm 1975 với những chi tiết và diễn biến cho tới những ngày cuối đời, trên giường bệnh, cận tử sinh vẫn là một ám ảnh gây nên mối phẫn hận.

Mối phẫn hận tăng thêm cường độ và tính cách mới sau 1975 khiến anh và những người bạn không thể im lặng trước tình cảnh khốn cùng của cả dân tộc. Trần Danh San lên tiếng nói và trả giá cho quyết định của mình với ý thức không lay chuyển. Trong trại giam Phan Ðăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người. Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối, viên cán bộ trưởng trại Phan Ðăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Ðăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ.

Chuyển trại từ Phan Ðăng Lưu ra A20, Xuân Phước, Người Tù-Kẻ Sĩ Trần Danh San vào ngay “Chuồng Cọp Số 5” tức khu biệt giam phân trại E của A-20. Tại đây, Trần Danh San, Vũ Ánh, Thượng Tọa Thiện Minh, Võ Sư Nguyễn Sáng... đã bị cùm liên tiếp trong nhiều năm. Không phải bị cùm thường mà “cùm Omega” bằng sắt với số vòng cùm nhỏ nhất phải dùng búa mới đóng vào được cổ chân người tù. Vũ Ánh đã nghe thấy tiếng búa của cai ngục đóng vòng cùm số 16 vào chân Trần Danh San đáng lẽ phải mang vòng cùm số 18. Trần Danh San đã không một tiếng kêu. Anh cũng không hề yêu cầu đổi vòng cùm.

Ở A-20, San thường nói với Vũ Ánh, chung một đội tù sau khi ra khỏi hầm kiên giam: “Ðừng bao giờ để cho cái đầu bị tê liệt vì cái bụng và cứ coi mình là một xác chết chưa chôn thì không còn sợ hãi gì cả.” Anh giữ vững nguyên tắc này cho đến ngày hôm nay trên giường bệnh lúc chạm biên giới tử/sinh. Nguyên tắc bức thoát khỏi những ràng buộc của vật chất, thân xác. Anh thường hoạt kê hóa câu hát “...Khoan khoan hò ơi... Thuyền... đã đến bến rồi...” để chỉ một sự đã rồi của tất cả các tình huống.

Vâng, thưa anh, Luật Sư Trần Danh San, anh đã đến bến từ một thuở rất lâu. Anh đến trước mọi người trong những lúc khắc nghiệt nhất. Anh đến và đi như một thản nhiên.

Ðể nhớ ngày 11 tháng 11, 2013,
Với Trần Danh San.

Phan Nhật Nam

 

 

 

 

Dòng Chúa Cứu Thế SàiGòn
hát nhạc trữ tình bằng giọng "Quảng Nam"