Tội ác lớn nhất của Cọng Sản trong lịch sử Việt Nam
Viet Cong Strategy of Terror
nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo
Những bài thơ được nhiều người mến chuộng
Nguyễn Thùy Linh DDS
Điện thọai: 770-986-0773
All of our work is 100% guaranteed, you'll never have to worry about the quality of our
404-642-9383
Tiến Sĩ Luật Khoa Tom Huỳnh/ 949-444-2544
*ĐMCS

Hoa Kỳ: Nghề Nail và Luật Thuế Vụ Liên Bang

* Tom Huỳnh, J.D.

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tại Hoa Kỳ, luật thuế vụ liên bang được thi hành bởi cơ quan thuế vụ liên bang IRS (Internal Revenue Service), áp dụng cho người làm việc tại khắp 50 tiểu bang. Ngoài luật thế vụ liên bang, mỗi tiểu bang còn có luật thuế vụ riêng, được thi hành bởi cơ quan thuế vụ của tiểu bang.

Trong nghề Nail, luật thuế vụ có những quy định khác biệt tùy vào mối quan hệ kinh doanh giữa chủ tiệm Nail và thợ làm trong tiệm. Mấu chốt tạo ra nhiều khác biệt trong vấn đề thuế vụ cho người trong nghề Nail là việc xác định thợ Nail làm trong tiệm là “employee” (nhân viên của chủ tiệm), hay là “self employed/independent contractor” (người làm việc độc lập/tự doanh).

Khác biệt trong vấn đề thuế vụ giữa “employee” và “self-employed/independent contractor” trong nghề Nail

* “Employee”

Nếu chủ tiệm xác định thợ Nail là “employee,” luật thuế vụ bắt buộc chủ tiệm phải tạm thu một phần tiền lương của người thợ vào mỗi kỳ lương để nộp trước cho cơ quan thuế vụ các khoản thuế lợi tức liên bang (và thuế lợi tức theo luật tiểu bang, nếu có), thuế An Sinh Xã Hội và Medicare theo luật liên bang “Federal Insurance Contributions Act” (FICA), là các khoản thuế căn bản mà người “employee” phải chịu. Mức tạm thu các khoản thuế theo luật FICA sẽ dựa vào thông tin từ mẩu W-4 mà người “employee” nộp cho chủ tiệm khi được thâu nhận. Về phía chủ tiệm cũng phải đóng góp phần thuế An Sinh Xã Hội, Medicare, và bảo hiểm trợ cấp thất nghiệp cho “employee” theo quy định của đạo luật liên bang “Federal Unemployment Tax Act” (FUTA).

Hàng năm, chủ tiệm sẽ cấp mẫu W-2 cho thợ Nail khai thuế lợi tức. Mẫu W-2 sẽ liệt kê tổng số thù lao (gồm cả tiền típ) mà thợ đã nhận, cùng với tiền thuế mà thợ đã đóng bằng phần tiền chủ đã tạm thu trong mỗi kỳ lương. Nói chung, người thợ Nail là “employee” sẽ bị khấu trừ thuế ngay trên mỗi kỳ lương, và chủ tiệm cũng có trách nhiệm đóng thêm các khoản thuế liên quan đến việc thuê mướn “employee” theo quy định của luật thuế liên bang và của tiểu bang, nếu có.

Cũng nên biết rằng theo luật thuế vụ liên bang, tiền "típ" cũng được xem là lợi tức và phải đóng thuế. Luật thuế vụ đòi hỏi người thợ Nail là “employee” nếu có nhận “típ” trên $20 mỗi tháng, phải làm mẫu 4070 để báo cho chủ tiệm biết tổng số tiền “típ” nhận được hàng tháng để chủ tiệm tạm thâu thuế theo luật liên bang. Tiền “típ” bao gồm cả tiền mặt và khi khách cho “típ” qua thẻ tín dụng. Về phần chủ tiệm, phải cộng tiền lương và tiền “típ” mà người thợ đã nhận để tính ra số thuế cần tạm thu và phần thuế mà chủ tiệm phải đóng góp khi trả lương cho người thợ. Trên mẫu W-2 cấp cho người thợ Nail khai thuế hàng năm, tổng số tiền “típ” cũng phải được tính chung như là tiền lương mà người thợ này đã nhận lãnh.

* “Self- employed/Independent contractor”

Trên nguyên tắc của luật thuế vụ liên bang, hầu hết những người đi làm tại Hoa Kỳ và được trả tiền công, dầu làm part-time hay full-time, thường được xem là “employee,” có nghĩa là nhân viên của chủ. Tuy nhiên, không phải tất cả những người đi làm đều là “employee.” Trong một số ngành nghề mà trong đó có nghề làm Nail, người thợ Nail vừa có thể là “employee,” nhưng cũng có thể là “self-employed/independent contractor” làm việc độc lập, không dưới sự điều khiển và kiểm soát của chủ. Theo luật thuế vụ liên bang, nếu người thợ Nail là “self/employed/independent contractor,” chủ tiệm sẽ không cần tạm thu hay đóng góp bất cứ loại thuế nào cho người thợ đó.

Tuy nhiên, nhằm ngăn chận tình trạng chủ tiệm Nail phân loại thợ Nail là “self employed/independent contractor” không đúng luật để tránh thi hành các quy định về thuế vụ áp dụng đối với “employee,” cơ quan IRS khi kiểm toán một tiệm Nail thường đòi hỏi chủ tiệm nếu không cấp mẫu W-2 cho thợ, thì phải có đủ dữ kiện để chứng minh người thợ Nail đó là “self employed/independent contractor” dựa trên những trắc nghiệm của IRS. Nếu cơ quan IRS xác định người thợ là “employee,” chủ tiệm có thể bị phạt rất nặng vì đã phạm luật thuế vụ.

Thông thường, người thợ Nail làm việc dưới dạng “self employed/independent contractor” là người thuê chổ làm việc độc lập trong tiệm Nail. Người “self employed/independent contractor” sẽ nhận 100% số tiền của khách hàng trả cho, rồi thanh toán tiền thuê chổ làm cho chủ tiệm theo sự thỏa thuận giữa đôi bên. Căn cứ trên một vài án lệ của tòa án thuế vụ liên bang (U.S. Tax Court), người thợ Nail là “self employed/independent contractor” có thể trả tiền thuê chổ làm việc theo phần trăm của tổng số lợi tức hàng tuần mà người thợ làm được, nhưng phải có một giá thuê tối thiểu. Và người “self employed/independent contractor” có bổn phận phải đóng thuế tự doanh trên lợi tức của mình theo quy định của luật liên bang Self-Employment Contributions Act (SECA). Theo luật của một số tiểu bang, người thợ Nail làm việc độc lập còn được gọi là “chair/booth/space renter,” và được kể như là người đi thuê chổ để làm việc trong tiệm của chủ.

Thế nào là “Self Employed/Independent Contractor” theo luật thuế vụ liên bang?

Để có thể tận thu các khoản thuế do liên bang quy định, cơ quan IRS rất quan tâm đến vấn đề người lao động là “employee” hay “independent contractor.” Cần lưu ý rằng theo luật thuế vụ liên bang, người thợ Nail là “employee” hay “independent contractor” không phải đơn giản là tùy vào ý muốn của chủ tiệm hay của người thợ Nail, mà phải hội đủ một số điều kiện dựa trên những yếu tố trắc nghiệm do cơ quan thuế vụ IRS đề ra.

Theo cơ quan IRS, người lao động được xem là “employee” nếu người đó phải làm việc theo các nguyên tắc của chủ; được sự huấn luyện hoặc chỉ dẫn của chủ; làm một công việc đồng nhất với việc kinh doanh của chủ; phải tự mình làm việc chứ không được cho người khác thầu lại; làm việc thường xuyên và dài hạn với một chủ; phải làm theo ngày giờ ấn định; phải làm việc tại cơ sở của chủ; phải thường xuyên báo cáo công việc với chủ; được trả lương theo định kỳ; được bồi hoàn các phí tổn liên hệ đến việc làm; dùng dụng cụ và vật liệu của chủ; không có vấn đề lời hay bị lỗ lã trong công việc; chỉ làm việc cho một người chủ chứ không quảng cáo việc làm của mình cho công chúng; có thể bị sa thải hay tự động nghỉ việc bất kỳ lúc nào mà không bị trách nhiệm.

Cũng theo cơ quan IRS, người nào đi làm mà không ở vào các trường hợp vừa kể trên đây thì sẽ có thể được xem là “self employed/independent contractor” trong vấn đề thuế vụ của liên bang.

Trắc nghiệm của cơ quan thuế vụ IRS trong vấn đề phân loại người lao động

Cơ quan IRS sử dụng phương thức trắc nghiệm theo luật phổ thông (Common law test) để xác định người lao động trong trường hợp nào có thể được xem là “self employed/independent contractor” theo luật thuế vụ liên bang. Trước đây, phương thức này gồm 20 yếu tố trắc nghiệm. Nhưng dưới áp lực của Quốc hội và các tổ chức lao động, cơ quan IRS vào năm 2006 đã tái duyệt 20 yếu tố trắc nghiệm “Common law test” và cô đọng lại còn 11 yếu tố chính. Các yếu tố này được đăng tải trong ấn bản “Publication 15-A” do cơ quan IRS ấn hành, và được chia thành ba hạng mục:

- Sự kiểm soát hành vi.

- Sự kiểm soát về tài chánh.

- Sự huấn luyện mà chủ cung cấp cho người lao động.

Dưới đây là tóm lược 11 yếu tố trắc nghiệm mà cơ quan thuế vụ IRS đề ra để xác định “self employed/independent contractor.” Hiện nay, cơ quan lao động tại một số tiểu bang cũng dựa vào 11 yếu tố trắc nghiệm này để phân định sự khác biệt giữa “employee” và “independent contractor” cho việc áp dụng các luật lệ lao động. Các yếu tố này chủ yếu nhằm trắc nghiệm mức độ kiểm soát của chủ và tính độc lập của người lao động. Yếu tố căn bản quan trọng là phải xem người chủ thật sự có quyền điều khiểngiám sát, hoặc theo dõi cách thức và ý định làm việc của người lao động hay không? Chỉ cần người chủ có quyền như vừa nói trên - bất kể là có sử dụng quyền đó hay không - thì quan hệ “chủ và thợ” (employer- employee) sẽ được thành lập, và người lao động sẽ là “employee.” Ví dụ nếu người chủ có quyền tùy ý sa thải người lao động không cần có lý do, là một bằng chứng rõ ràng của quyền điều khiểngiám sát.

- Sự kiểm soát hành vi

Những chi tiết cho thấy có phải người chủ kiểm soát hoặc chỉ đạo việc làm của người lao động làm và cách người đó làm việc:

1. Sự hướng dẫn và chỉ đạo của chủ đối với người lao động. Một “employee” thường lệ thuộc vào hướng dẫn và chỉ đạo của chủ về thời gian, địa điểm và cách làm việc.

2. Sự huấn luyện mà người chủ cung cấp cho người lao động. Một “employee” có thể được chủ huấn luyện cách thức để làm việc. Người “self employed/independent contractor” thường làm việc theo cách thức riêng.  

- Sự kiểm soát về tài chánh

Những chi tiết cho thấy có phải người chủ có quyền kiểm soát việc kinh doanh của người lao động:

3. Mức độ về chi phí liên hệ trong công việc làm người lao động không được chủ bồi hoàn. Người “self employed/independent contractor” có nhiều khả năng không được bồi hoàn chi phí hơn là “employee.” Những chi phí cố định mà người lao động phải chịu bất kể có hay không có việc làm, được kể là đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, “employee” cũng có thể không được bồi hoàn chi phí trong nhiều công việc mà họ thực hiện cho người chủ.

4. Mức độ về sự đầu tư của người lao động. Một “employee” thường không có sự đầu tư nào khác vào việc làm ngoài vấn đề tốn kém thời gian làm việc. “Independent contractor” thường phải đầu tư đáng kể vào các phương tiện mà người đó dùng để cung cấp dịch vụ cho người khác.

5. Mức độ quảng bá dịch vụ của người lao động trên thị trường liên hệ. Người “self employed/ independent contractor” được quyền tự do tìm cơ hội kinh doanh, thường quảng cáo về dịch vụ của mình và sẵn sàng để làm việc.

6. Cách thức mà người chủ trả tiền cho người lao động. Một “employee” thường được hưởng lương cố định theo mỗi giờ, mỗi tuần hay trong một chu kỳ thời gian nào đó. Chi tiết này là dấu chỉ cho thấy người lao động là “employee,” kể cả trường hợp lương bổng được kèm theo tiền huê hồng. Một “independent contractor” thường được trả công cho từng việc làm.

7. Mức độ lời lỗ của người lao động. Người chủ thường cung cấp cho “employee” nơi làm việc, dụng cụ, thiết bị và nguyên liệu cần thiết trong việc làm, và thường trả mọi phí tổn để kinh doanh, người “employee” vì vậy không có sự lời lỗ trong việc làm. Người “self employed/independent contractor” có thể lời, hoặc có thể bị lỗ trong kinh doanh.

- Hình thức của mối quan hệ

Những dấu chỉ cho thấy hình thức quan hệ đôi bên:

8.  Hợp đồng trên văn bản mô tả quan hệ mà đôi bên có ý thành lập.  Đây là yếu tố ít quan trọng, vì vấn đề chủ yếu là mối quan hệ thật sự trong lúc làm việc, chứ không phải những gì đôi bên lựa chọn để gọi. Nhưng trong những trường hợp mà các yếu tố phân định quá suýt soát, bản hợp đồng có thể làm nên sự khác biệt.

9. Người chủ có cung cấp cho công nhân những phúc lợi dành cho “employee” hay không Ví dụ như bảo hiểm sức khỏe, chương trình hưu bổng, được hưởng lương các ngày nghỉ phép hay đau ốm, bồi hoàn phí tổn liên quan đến việc làm, v.v… Quyền cung cấp hay thâu hồi các phúc lợi thường do người chủ áp dụng đối với “employee.” Người “independent contractor” thực sự sẽ phải tự chi trả các khoản phúc lợi bằng lợi nhuận từ việc kinh doanh.

10.  Sự liên tục của mối quan hệ.  Nếu người chủ dùng người lao động với ý định kéo dài mối quan hệ trong thời gian vô hạn định, thay vì trong một dự án hoặc một khoảng thời gian cố định, điều này thường được xem như bằng chứng tạo nên mối quan hệ “chủ - employee.”

11. Mức độ cho thấy công việc của người lao động là phần chính yếu trong việc kinh doanh thường xuyên của người chủ.  Nếu dịch vụ do người lao động cung cấp là phần chính yếu trong việc kinh doanh thường xuyên của người chủ, thì thông thường người chủ sẽ có quyền chỉ đạo và kiểm soát việc làm của người lao động.

Mặc dầu đã đưa ra những yếu tố trắc nghiệm như đã tóm lược bên trên, cơ quan IRS cho biết sẽ không có những yếu tố riêng biệt nào để xác định người lao động là “employee” hay “self employed/independent contractor,” và không một yếu tố nào khi đứng riêng một mình mà xác định được điều đó. Một vài yếu tố khi dùng để trắc nghiệm có thể sẽ cho thấy người lao động là “employee,” trong khi các yếu tố khác lại cho thấy đó là “self employed/independent contractor.” Ngoài ra, có những yếu tố liên quan trong trường hợp này, nhưng lại có thể không liên quan trong hoàn cảnh khác. Chủ yếu là phải xem kỹ toàn bộ mối quan hệ giữa chủ và người lao động, mức độ hoặc giới hạn về quyền chỉ đạo và kiểm soát trực tiếp của chủ, và cuối cùng là phải ghi nhận mọi yếu tố trước khi xác định người lao động là “employee” hay “self employed/independent contractor.”

Ngoài luật thuế vụ liên bang, mỗi tiểu bang cũng có luật thuế vụ riêng, được thi hành bởi cơ quan thuế vụ của tiểu bang. Tuy nhiên, luật thuế vụ tại các tiểu bang cũng thường dùng trắc nghiệm của IRS để phân loại người lao động là “employee” hay “self employed/independent contractor”.

Ðể có thể áp dụng luật thuế vụ một cách đúng đắn và tránh phải trả các khoản tiền phạt vạ khi bị kiểm toán trong vấn đề thuế vụ, chủ tiệm Nail cần phải xác định những thợ Nail làm trong tiệm của mình là “employee” hay “self-employed/independent contractor” theo đúng quy định của IRS và cơ quan thuế vụ của tiểu bang đang hành nghề.

Cần thêm thông tin, có thể liên lạc trực tiếp với Tiến Sĩ Luật Khoa Tom Huỳnh, điện thoại (949) 943-4396.

SÁCH MỚI PHÁT HÀNH !!!

LUẬT PHÁP VÀ NGHỀ NAIL TẠI HOA KỲ 2017

Đầy đủ thông tin chính xác mới nhất năm 2017 về mọi thứ luật lệ và quy định của liên bang và của từng tiểu bang Hoa Kỳ liên quan đến nghề Nail.

Giá $16.95 + $6.65 cước phí trong Hoa Kỳ.

Muốn đặt mua sách, gửi tên & địa chỉ người nhận và chi phiếu $23.60 về:

Tom Huynh, J.D.

221 Main Street, #1011

Seal Beach, CA 90740

Dòng Chúa Cứu Thế SàiGòn
hát nhạc trữ tình bằng giọng "Quảng Nam"