Tội ác lớn nhất của Cọng Sản trong lịch sử Việt Nam
Viet Cong Strategy of Terror
nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo
Những bài thơ được nhiều người mến chuộng
Nguyễn Thùy Linh DDS
Điện thọai: 770-986-0773
All of our work is 100% guaranteed, you'll never have to worry about the quality of our
404-642-9383
Tiến Sĩ Luật Khoa Tom Huỳnh/ 949-444-2544
*ĐMCS

Bác Sĩ tại Đà Nẵng trước 30 tháng 4

CMTBIA2

@ trích trong "Chuyện Một Thời Đà Nẵng" (Đọan 16, từ trang 102 đến 112)


Tại góc phố xưa, tôi liên tưởng đến tiệm phở Cấp Tiến với tô phở Bắc thuộc loại chính gốc: thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa... “(Vũ Bằng)
Tiệm phở Cấp Tiến trước kia nằm tại góc đường Yên Bái/Trần Hưng Đạo, sau này dọn sang góc đường Yên Bái/Đồng Khánh, gần hãng hàng không Cosara do ông Nguyễn Mạnh Lân quản lý. Ông bà Lân có hai người con trai tên Vỹ và Khải.

(Nguyễn Mạnh Vỹ, người ngồi thứ hai đếm từ phải qua )

Khi Cosara dọn đi, tại đây một khách sạn cở lớn mọc lên mang tên OK, ông Vinh làm chủ.

Nhìn sang bên kia đường thấy có Ty Tiểu Học Đà Nẵng, cụ Trần Kỷ làm trưởng ty. Sau này cụ Trần Kỷ thuyên chuyển vào Qui Nhơn, con trai lớn của cụ Kỷ tên Đạo, cô gái lớn tên Lan. Người con trai cụ Trần Kỷ gia nhập QLVNCH, và bị cọng sản bắt làm tù binh vào khoảng năm 1972. Những ai ở Đà Nẵng còn tấm bằng tiểu học năm xưa chắc sẽ thấy chữ ký của của ông Trưởng Ty Tiểu Học Trần Kỷ, thừa ủy nhiệm Bộ Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH.
Trường Tiểu Học nằm sát Ty Tiểu Học, nam nữ học chung, giờ tan học các cháu ra về như ong vỡ tổ. Sau này trường chỉ dành cho nữ sinh, còn nam sinh đã có trường Nam Tiểu Học trên đường Lê Lợi, đối diện với trường Phan Châu Trinh .

Tại tiệm phở Cấp Tiến này tôi đã có dịp gặp và nhìn thấy nhiều vị bác sĩ của thành phố nhà.
Bác sĩ Trần Đình Nam có thời làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong nội các Trần Trọng Kim của chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập năm 1945 do vua Bảo Đại phê chuẩn. Chiều chiều, ngoại trừ những ngày mưa, cứ khoảng bốn giờ, bác sĩ Nam làm một vòng bách bộ từ phòng mạch của ông, đi dọc theo đường Độc Lập, quẹo phải vào Đồng Khánh, quẹo phải vào Yên Bái, đi ngang phở Cấp Tiến...
Mặc dầu thả bộ, bác sĩ Nam vẫn ăn mặc chỉnh tề, quần tây và áo bốn túi màu trắng ngà, đặc biệt trên tay lúc nào cũng cặp một tờ báo hay cuốn sách, có lần liếc trộm tôi thấy Bulletin des Amis du Vieux Hue, lần khác thì Paris Match.... Ai biết ông, chào ông thì ông gật đầu chào lại, có khi đứng lại hỏi han lịch sự.
Bác sĩ Trần Đình Nam mất vào năm 1973 tại Đà Nẵng, đám tang của ông được tổ chức trọng thể. Người Đà Nẵng hay gọi Bác sĩ Nam là cụ Nam với tất cả kính trọng.

Khác hẳn với bác sĩ Trần Đình Nam bản tính trầm lặng, bác sĩ Thái Can, giọng Quảng Bình nói năng chậm rãi nhưng cởi mở và vui nhộn.
Người Đà Nẵng biết ông Thái Can là bác sĩ hơn là biết ông như một thi sĩ. Có lẽ vì những bài thơ đầu tay đăng trên các báo Phong Hóa, Hà Nội báo, Tiểu Thuyết thứ bảy ...ông ký bút hiệu là Th.C. thay vì ghi rõ Thái Can.
Trong tập “Thi Nhân Việt Nam" Hoài Thanh có nhắc đến nhà thơ Thái Can. Bác Sĩ Thái Can nổi tiếng với bài thơ tiền chiến ”Anh biết Em đi”:

Anh biết em đi chẳng trở về
Dặm ngàn liễu khuất với sương che
Em đừng quay lại nhìn anh nữa
Anh biết em đi chẳng trở về
Không phải vì anh, chẳng tại em

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc.
Bác Sĩ Thái Can còn được nhắc đến qua câu chuyện y khoa phòng ngừa được kể trong “nhà ri” tại trại cải tạo Tiên lãnh Tiên Phước. Hồi xưa, tại Đà Nẵng và chắc nhiều nơi khác cũng thế, dân chúng mắc bệnh tiêu chảy, kiết lỵ vì ăn uống không giữ vệ sinh đúng cách. Rửa tay sạch, trước khi nấu ăn hay trước khi ăn là cách ngăn ngừa hay nhất. Chị bếp của bác sĩ Thái Can, trước khi nấu ăn, hai tay phải xoa sà phòng rồi chạy lên trình diện ông với thủ tục tay đưa cao lên, miệng nói “thưa Thầy”. Chị bếp chờ cái gật đầu của ông mới được đi xuống bếp nổi lửa lên xào nấu. Nghe nói, có lần ông bận công chuyện về nhà trễ, chị bếp không thể nấu cơm chiều được vì thiếu cái gật đầu, cả nhà đành phải đi kéo ghế tại tiệm ăn Thời Đại trên đường Độc Lập.
Bác sĩ Thái Can có người con trai nối nghiệp ông là bác sĩ Thái Thanh. Anh Thái Thanh, học sinh trường Phan Châu Trinh, được xếp trong danh sách học sinh ưu tú của nhà trường.

Đôi ba lần tôi gặp Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ tại Tiệm phở Cấp Tiến, lúc đó ông giữ chức vụ Y sĩ Thiếu tá Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng. Có một thời gian Bác sĩ Thọ làm Hiệu trưởng Trường Văn Hóa Quân Đội Đà Nẵng. Khi dạo phố bác sĩ Thọ mặc thường phục, sơ mi ngắn tay, dáng dấp to con và trông vô cùng khỏe mạnh.
Sau khi giải ngũ, ông mở phòng mạch trên Đường Độc Lập. Phòng mạch có treo tấm tranh ghi mấy chữ "Hoa Đà Tái Thế" của bệnh nhân ghi ơn bác sĩ Thọ đã cứu sống sinh mạng họ. Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ uyên thâm về nho học, tác giả cuốn Kinh Dịch Đại Toàn, một công trình mấy chục năm nghiên cứu.

Bác sĩ Lê Nguyên Cát, nói giọng Huế, thấp người, hay đi chiếc traction màu đen. Trường hợp bệnh nhân đau nặng có người nhà đến mời, dù đêm khuya hay nửa sáng, ông cũng đến thăm bệnh ngay. Ông bà Cát rất sùng đạo Phật, nhà có dựng ban thờ trang nghiêm chẳng khác gì một ngôi chùa nhỏ.

Bác sĩ Huỳnh Tấn Đối, người mảnh khảnh, nước da trắng, nói năng nhẹ nhàng, ông giữ chức chủ tịch Hội Hồng Thập Tự phân bộ miền Trung. Ông đã có mặt tại cầu Hiền Lương trong giờ phút trục xuất giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ dạy Việt văn tại Marie Curie, Sàigòn sang bên kia sông Bến Hải vì ông này là cọng sản. Chuyện xảy ra thời tướng Nguyễn Chính Thi làm Tư Lệnh Vùng 1 chiến thuật.

Hồi xưa, học sinh thi bằng tiểu học có thể chọn một trong ba môn nhiệm ý, thể thao, gia chánh và hát hay đọc thuộc lòng, để lấy thêm điểm phụ trội. Cậu em trai út tôi chọn nhiệm ý thể thao nên cần giấy chứng nhận sức khỏe. Bác sĩ Hùynh Tấn Đối, người cấp giấy chứng nhận cho em tôi, sau khi nghe tim đo mạch, ông đã cho tôi biết rằng em tôi có chứng bệnh Heart Murmur.          
Bác sĩ Huỳnh Tấn Đối là một trong 12 bác sĩ có luận án đầu tiên của Y khoa Hà Nội.

Đà Nẵng thời xưa có nhiều vị đốc tờ tốt nghiệp Y khoa Hà Nội, học trình 7 năm khác với Y Sĩ Đông Dương học trình 4 năm. Khi hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, trường Y Khoa Hà Nội di chuyển vào Sàigòn, nằm trên đường Trần Qúy Cáp.

Đặc biệt vào nhiều sáng thứ hai, tại tiệm phở Cấp Tiến, tôi gặp y sĩ trung tá Phạm Viết Tú, người Bắc, chỉ huy trưởng Tổng Y Viện Duy Tân, có tài xế lái chiếc xe jeep cao đưa ông đến ăn phở. Bác sĩ Tú mặc quân phục rất chỉnh tề, quần áo thẳng tắp, ủi hồ nề nếp, có lẽ mỗi thứ hai sau khi ăn phở xong, ông vào Tổng Y Viện ngay để làm lễ chào quốc kỳ.

Cũng tại tiệm phở này, nhiều lần tôi gặp y sĩ thiếu tá Phạm Văn Lương, trưởng khu ngoại thương của Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng. Bác sĩ Lương mẫu người khắc khổ, thân hình gầy gò, khuôn mặt lúc nào cũng đăm chiêu, lầm lì, ít khi nở nụ cười. Ông Lương đã từng ôm lựu đạn đứng trước Hạ Viện Sài Gòn, đòi hỏi việc chống tham nhũng trong quân đội.
Khi Cọng Sản vào Đà Nẵng cuối tháng 3-1975, ban quân quản thành phố mời bác sĩ Lương vào làm việc lại tại Tổng Y Viện Duy Tân, cùng với một số nha y dược sĩ khác, nhưng thật ra bọn Cọng Sản bịp bợm chỉ lợi dụng số sĩ quan quân y này lúc giao thời trong công việc kiểm kê, hướng dẫn kỹ thuật.
Hồi đó đài BBC đã "lăng-xê ca-na" (loan tin vịt) là bác sĩ Lương được cử làm thị trưởng thành phố Đà Nẵng. Sau vài tuần làm việc ở Tổng Y Viện Duy Tân, bọn quân quản địa phương ra lệnh các sĩ quan quân y này về nhà chuẩn bị thực phẩm đủ dùng trong 1 tuần lễ để đi học tập chính trị đôi ba ngày rồi sẽ trở lại nhiệm sở cũ.
Bác sĩ Lương bị đưa lên làm y tế ở tổng trại Kỳ Sơn thuộc vùng núi Quảng Nam Đà Nẵng. Cùng làm việc ở bệnh xá này có cả bác sĩ Nguyễn Văn Cơ, con rễ nhà in Trúc Mai, trước đây giữ chức Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương Huế và chức vụ cuối cùng là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Bài Lao Sơn Chà.

Sở trường của bọn vẹm chuyên nghề bịp bợm và nói láo. "Đôi ba ngày đi học tập" đã trở thành vài ba năm, hàng chục năm bị đày đọa trong các trại tù trá hình mang tên cải tạo. Ngày về của người tù cải tạo đố ai mà biết được?
Sáng xuân có người đến hỏi…
Trưa hè có người đến hỏi….
Chiều thu có người đến hỏi…

Đêm đông có người đến hỏi…    
Cụ ơi con cụ đâu rồi
Mẹ tôi mái tóc bạc phơ
Rưng rưng giọt lệ nghẹn ngào quay đi
(thơ trích trên Internet, không rõ tác giả)       

Khi biết rõ mình bị lường gạt, Bác sĩ Lương đã dùng một nạm chloroquin để tự kết liễu đời mình như một lối thoát xa mãi cái thế giới mà lũ cọng sản dối trá tàn ác đang vây quanh và cũng để khỏi phải đối diện với "những điều trông thấy mà đau đớn lòng ".
Phần mộ anh Lương nằm hiu quạnh trên một đồi sắn gần bệnh xá trại cải tạo Kỳ Sơn nhưng chắc hẳn anh đang an nghỉ trong một thế giới không còn buồn phiền.

Bác sĩ Lương được người dân vùng núi Kỳ Sơn nhớ đến như là một bác sĩ giải phẩu tài ba.
Có lần, một thai phụ chuyển bụng, nước lồi ối đã vỡ nhưng thai nằm ngược nên không thể sanh theo lối bình thường qua ngã âm đạo. Người nhà dùng võng đưa chị ta đến bịnh xá trại cải tạo để cầu cứu, anh Lương đã phải dùng phẩu thuật "Caesarean Section " để lấy em bé ra qua đường thành bụng. Ở các khu sản phụ khoa của bệnh viện, đây chỉ là một ca mổ thông thường như cơm bữa nhưng có điều đáng nói, ở miền núi Kỳ Sơn, phòng mổ không có, phương tiện gây mê cũng không có, làm cách nào đây ?
Bác sĩ Lương đã đánh liều làm phẩu thuật C-section bằng cách "gây tê tại chỗ" với novocaine chích vào thành bụng và chích đến đâu thì mổ tới đó. Cuộc giải phẩu thành công, mẹ tròn con vuông.

Sau này, chính sản phụ mang thai nằm ngược hồi đó, tay ôm con, nước mắt đầm đìa khóc ngất khi nghe tin Bác sĩ Lương qua đời.

Tại Đà Nẵng, cùng thời với bác sĩ Cơ, bác sĩ Tú, bác sĩ Lương, bác sĩ Đinh Văn Tùng... có một bác sĩ chuyên khoa giải phẩu được các đồng nghiệp ngưỡng mộ tài ba và óc sáng tạo là bác sĩ Phùng Văn Hạnh, trưởng khu ngoại khoa của Trung Tâm Y Tế Toàn Khoa Đà Nẵng nằm trên đường Nguyễn Hoàng.
Khi cọng sản cưỡng chiếm miền Nam, bác sĩ Hạnh đã bị đày lên trại cải tạo Tiên Lãnh, một trại tù hắc ám do công an quản lý. Trong trại cải tạo, dụng cụ y khoa hầu như không có gì đáng kể và thuốc men vô cùng thiếu thốn nhưng bác sĩ Hạnh đã tận tâm cứu mạng sống cho nhiều bạn tù thập tử nhất sinh. Bác sĩ Hạnh kiêm luôn việc nhổ răng cho bạn tù và còn là danh thủ cờ tướng với những nước cờ thế cờ bí mà ông đẩy đối thủ vào chỗ hết đường chạy.

(Bác sĩ Phùng Văn Hạnh/ video screen capture)

Cùng bị giam chung trong trại Tiên Lãnh này còn có bác sĩ Tôn Thất Sang và bác Sĩ Vương Ngọc Lâm. Bạn tù đặt biệt danh “ba chàng ngự lâm pháo thủ” cho ba ông đốc tờ này .

Cũng theo bạn tù kể lại, ngoài khả năng chuyên môn uy tín, bác Sĩ Vương Ngọc Lâm còn có hai biệt tài, thứ nhất là nhớ số quân của quân nhân chỉ sau một vài lần ông xem qua và thứ hai là mặc dầu không đeo đồng hồ nhưng được hỏi giờ bất cứ lúc nào ông cũng có thể nói giờ gần như đúng, xê xích họa hoằn chỉ chừng năm, ba phút mà thôi.

(Bác Sĩ Vương Ngọc Lâm)

Riêng bác sĩ Sang, vua kể chuyện tiếu lâm, thường chế diễu cọng sản theo kiểu “sấm đằng đông mà động đằng tây, ta đây nói đấy đằng kia động lòng” nên cán bộ quản giáo luôn tìm cách “đì” . Ba ông bác sĩ này bị đưa ra ngoài đi lao động, nhưng khi có dịp làm trong ban y tế trại, các bác sĩ Hạnh, bác sĩ Sang, bác sĩ Lâm đã biểu lộ khả năng giỏi, lương tâm đáng kính, tinh thần bất khuất của người thầy thuốc VNCH. Theo những bạn tù Tiên lãnh cho biết, các ông bác sĩ này bị giam lâu vì mắc chứng bệnh phát ngôn linh tinh, tức ăn nói mà cọng sản gọi là phản động.

Trước năm 75, số bác sĩ tốt nghiệp Y Khoa Sàigòn và Y Khoa Huế có mặt tại Đà Nẵng rất đông.
Học sinh các trường Trung Học Đà Nẵng như Sao Mai, Phan Thanh Giản, Bán Công, Phan Châu Trinh, Blaise Pascal… hình như có khuynh hướng sau khi đậu tú tài 2 đua nhau thi tuyển vào Y Nha Dược. Có những gia đình cả mấy anh chị em hùa nhau học thành bác sĩ, nha sĩ hay dược sĩ… như gia đình cụ Võ Văn Triêm có bác sĩ Tùng, bác sĩ Đàn, dược sĩ Đóa, gia đình giáo sư Vương Duy Quỳnh có bác sĩ Lâm, bác sĩ Phát, dược sĩ Long…

Cháu gái tôi cho biết, trường Phan Châu Trinh có một lớp đệ nhất A, rất nhiều học sinh tốt nghiệp Y Nha Dược, đạt tỉ lệ  1/5 trên tổng số học sinh trong lớp như bác sĩ Lân, bác sĩ Tảo, bác sĩ Tứ, bác sĩ Tuân, dược sĩ Đóa, dược sĩ Nga, dược sĩ Em, và đặc biệt hai chị em người đẹp của trường Phan Châu Trinh là Thu Liên và Thu Hà đều tốt nghiệp dược sĩ.


(Từ trái qua phải : Dược Sĩ Thu Liên và Dược Sĩ Thu Hà)

Không biết có phải là do khuyến khích của nhà trường hay do sự lựa chọn của học sinh trong thời chiến ?

(Toán cứu thương của trường Phan Châu Trinh năm xưa)

@Vũ Nguyên Hồng

trích trong "Chuyện Một Thời Đà Nẵng" (Đọan 16, từ trang 102 đến 112)


nhạc đệm : Đà Nẵng Tình Người/ giọng ca Vân Khánh.

Dòng Chúa Cứu Thế SàiGòn
hát nhạc trữ tình bằng giọng "Quảng Nam"